Đánh giá chính sách tài chính phát triển công nghiệp quốc gia trong thời gian qua, tiến sỹ Nguyễn Viết Lợi, Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách tài chính – Bộ Tài chính cho rằng, về cơ bản đã bao quát được những vấn đề trọng điểm trong phát triển công nghiệp.

Chính sách đã góp phần động viên các nguồn lực thực hiện các mục tiêu về phát triển công nghiệp; góp phần hình thành nên các “động cơ”, “đòn bẩy” cho sự phát triển của ngành công nghiệp.

Nhiều ưu đãi thuế cho các khu công nghiệp 

Theo ông Lợi, chính sách tài chính tác động theo hai hướng: Thứ nhất, chính sách hỗ trợ trực tiếp thông qua các ưu đãi về thuế, tín dụng cho các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ. Thứ hai, chính sách hỗ trợ gián tiếp phát triển các yếu tố tiền đề để thực hiện chính sách công nghiệp (thông qua hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển các vùng kinh tế trọng điểm… ).

Đối với các chính sách hỗ trợ trực tiếp, chính sách thuế, tín dụng đã hướng ưu tiên vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, ngành công nghiệp ưu tiên phát triển, các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất và công nghiệp hỗ trợ (CNHT). Trong đó, chính sách thuế TNDN được xây dựng với các mức độ ưu đãi khác nhau theo đối tượng hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư. Mức độ ưu đãi cao nhất cho áp dụng mức thuế suất 10% trong vòng 15 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong vòng 9 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp tại các địa bàn đặc biệt khó khăn, khu kinh tế hoặc thuộc các ngành, lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích đầu tư. Áp dụng mức thuế suất 0% đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình cho doanh nghiệp chế xuất; doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất (khu phi thuế quan).

Bên cạnh các ưu đãi về thuế, các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, CNHT, khu kinh tế, khu chế xuất,… cũng được hưởng những ưu đãi về tín dụng, tiếp cận vốn vay và bảo lãnh vay.

Về hỗ trợ gián tiếp, chính sách tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) cũng được chú trọng. Trong giai đoạn 2005 – 2015, mặc dù điều kiện NSNN còn gặp nhiều khó khăn nhưng chi cho phát triển hoạt động KH&CN đạt mức 2% tổng chi NSNN (tương đương 0,5 – 0,6% GDP)…

Trong phát triển nguồn nhân lực công nghiệp, chính sách tài chính đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu và nâng cao nguồn nhân lực, phục vụ tốt hơn các mục tiêu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung, về phát triển công nghiệp nói riêng. Bên cạnh đó, chính sách tài chính phục vụ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu phát triển công nghiệp cũng đang phát huy tác dụng tích cực…

Đa dạng hóa nguồn lực tài chính

Thời gian tới, để chính sách tài chính thực sự là “đòn bẩy” phát triển ngành công nghiệp, theo tiến sỹ Nguyễn Viết Lợi, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách tài chính, đảm bảo tính đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và các cam kết quốc tế nói chung, các yêu cầu về phát triển công nghiệp nói riêng.

Đồng thời, hệ thống pháp luật tài chính tiếp tục được sửa đổi, hoàn thiện, tập trung vào việc tháo gỡ các rào cản, vướng mắc về chính sách thuế, hải quan, thủ tục hành chính, trên cơ sở đảm bảo tôn trọng quyền tự do kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, ổn định, minh bạch, thông thoáng cho doanh nghiệp nói chung, lĩnh vực công nghiệp nói riêng.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển công nghiệp. Đặc biệt, cần tập trung phát triển các yếu tố tiền đề để hỗ trợ cho chính sách công nghiệp như phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, phát triển KH&CN. Chúng ta phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, phát triển CNHT thông qua việc rà soát, đồng bộ hoá và tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách tài chính để hướng nguồn lực xã hội vào các ngành, các lĩnh vực, các vùng có lợi thế so sánh, có tiềm năng tăng giá trị gia tăng trên cơ sở đảm bảo môi trường đầu tư trong nước có “tính cạnh tranh” so với các nước trong khu vực…

Để tiếp tục thực hiện mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc rà soát, đánh giá chính sách phát triển công nghiệp (trong đó có chính sách tài chính), đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, trong cấu trúc mới của quá trình sản xuất công nghiệp toàn cầu với lộ trình trung và dài hạn, từ đó xác định định hướng chính sách đúng đắn, xây dựng và thực thi chính sách hiệu quả là yêu cầu tất yếu khách quan”.